Chủ trương đổi mới đã được Đảng ta đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Đến nay, sau 40 năm, sự nghiệp đổi mới đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Dấu ấn thành tựu sau 40 năm đổi mới

Trong suốt 40 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm, các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao.
Trong 10 năm 1990-2000, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của đạt 7,5%. Giai đoạn 2006-2010, nền kinh tế nước ta vượt qua nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng nhanh, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%. Quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 đạt 101,6 tỷ USD (gấp 3,26 lần so với năm 2000).
Sang đến giai đoạn 2011-2020, kinh tế vĩ mô duy trì ổn định vững chắc, lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức thấp tạo môi trường và động lực cho phát triển kinh tế-xã hội.
Giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt bình quân 5,9%/năm; giai đoạn 2016-2019 ước đạt 6,8%/năm. Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất của khu vực và IMF đánh giá Việt Nam nằm trong Top 20 nền kinh tế đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng toàn cầu năm 2019.
Đáng chú ý, năm 2020, dưới tác động của COVID-19, nhiều nước trên thế giới đã rơi vào suy thoái. Tuy nhiên, Việt Nam là một trong số ít quốc gia vẫn duy trì tăng trưởng dương (2,9%), bảo đảm an sinh xã hội.
Theo đánh giá của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, kết thúc năm 2020, Việt Nam đã đạt được “mục tiêu kép” trong phòng chống COVID-19 và duy trì tăng trưởng kinh tế. Tạp chí The Economist tháng 8/2020 đã xếp Việt Nam trong top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới.
Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, nếu như năm 1989 mới đạt 6,3 tỷ USD/năm, thì đến năm 2020 đã đạt khoảng 268,4 tỷ USD/năm. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, năm 1985 bình quân thu nhập đầu người mới đạt 159 USD/năm, thì đến năm 2020 đạt khoảng 2.750 USD/năm.
GDP theo giá hiện hành năm 2024 ước đạt 11.511,9 nghìn tỷ đồng, tương đương 476,3 tỷ USD, đánh dấu một bước tiến trong phát triển kinh tế của Việt Nam.
Đặc biệt, GDP bình quân đầu người đạt 114 triệu đồng (4.700 USD), tăng 377 USD so với năm trước, cho thấy mức sống của người dân không ngừng được cải thiện. Đây là kết quả đáng khích lệ, khẳng định hiệu quả của các chính sách kinh tế và sự phát triển toàn diện của đất nước.
Ngoài ra, tại Việt Nam đã hình thành các vùng kinh tế trọng điểm để làm động lực cho phát triển kinh tế vùng, miền và cả nước; phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển, đồng thời hình thành các vùng chuyên môn hoá cây trồng, vật nuôi gắn với chế biến công nghiệp... Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển mạnh mẽ.
Qua 40 năm, từ chỗ thiếu ăn, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản, như: cà phê, gạo, hạt điều, rau quả, tôm, gỗ và sản phẩm từ gỗ... luôn duy trì ở mức cao. Các mặt hàng xuất khẩu khác cũng có bước tiến lớn.
Năm 2025 được coi là thời điểm "tăng tốc và bứt phá" để đạt mục tiêu cả nhiệm kỳ 2020-2025, do đó, Chính phủ đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 8%-10%. Mới đây, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cũng đã nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2025 lên 6,6%, từ mức 6,2% dự báo vào tháng 9/2024. Điều này cho thấy triển vọng tích cực của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.
Đến năm 2023, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 36,6 tỷ USD; năm 2024 đạt khoảng 38,23 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước thu hút FDI hàng đầu thế giới. FDI đóng góp đáng kể vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu và tạo ra hàng triệu việc làm mới cho người lao động.
Đặc biệt, sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên rõ rệt: Năm 2019, năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam tăng 10 bậc so với năm 2018, đứng thứ 67/141 nền kinh tế. Chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam năm 2019 tăng 8 bậc so với năm 2015, xếp thứ 70/190 quốc gia, vùng lãnh thổ.
Theo Báo cáo GII 2024 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam tiếp tục thăng hạng, đạt vị trí 44/133 quốc gia và nền kinh tế, tăng 2 bậc so với năm 2023.
Đặc biệt, cả đầu vào và đầu ra đổi mới sáng tạo đều có sự cải thiện rõ rệt, với thứ hạng lần lượt tăng từ 57 lên 53 và từ 40 lên 36. Sự tiến bộ này cho thấy hiệu quả của những nỗ lực đầu tư vào nghiên cứu, công nghệ, cũng như việc nâng cao năng lực sáng tạo trong doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu khoa học. Đây là cơ sở để Việt Nam thu hút thêm nguồn lực đầu tư quốc tế, thúc đẩy sự cạnh tranh và phát triển kinh tế bền vững.
Xuất khẩu hàng hóa là một thế mạnh của Việt Nam trong những năm gần đây, khi giá trị kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên và đã có 5 năm liên tiếp xuất siêu kể từ năm 2016. Năm 2020, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt trên 543 tỷ USD, tăng 5% so với năm trước, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 281 tỷ USD, tăng 6,5%; nhập khẩu hàng hóa đạt 262 tỷ USD, tăng 3,6%, xuất siêu 19 tỷ USD, mức cao nhất trong 5 năm qua. Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thủy sản của Việt Nam tăng đều qua các năm, đạt 41,3 tỷ USD năm 2019.
Năm 2024, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tiếp tục cải thiện theo chiều hướng tích cực, giảm hàm lượng xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, sản phẩm công nghiệp, tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.
Kết thúc năm 2024, cả nước có 36 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 69,0% tổng kim ngạch xuất khẩu, đó là các mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện (72,584 tỷ USD); điện thoại các loại và linh kiện (53,892 tỷ USD); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác (52,192 tỷ USD).
Ngành nông, lâm, thủy sản cũng ghi nhận nhiều kết quả ấn tượng. Giá trị xuất khẩu của nhóm này năm 2024 đạt 62,5 tỷ USD - mức cao kỷ lục từ trước đến nay, tăng 18,7% so với năm 2023. Trong đó, thủy sản mang về hơn 10 tỷ USD, tăng 12,1% so với năm trước; rau quả đạt 7,1 tỷ USD, tăng gần 27%, đánh dấu mức kỷ lục mới và trở thành điểm sáng trong bức tranh xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2024.
Xuất khẩu gạo năm 2024 cũng lập kỷ lục mới cả về sản lượng và kim ngạch, giúp Việt Nam giữ vững vị thế top 3 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu gạo năm 2024 lần đầu đạt 9 triệu tấn, thu về 5,8 tỷ USD, tăng 10,6% về lượng nhưng tăng tới 23% về giá trị. Đây là bước bứt phá vô cùng ấn tượng sau 35 năm kể từ khi Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo.
Bên cạnh thủy sản, gạo và rau quả, nhiều mặt hàng cây công nghiệp cũng đang đứng trước thời cơ tăng trưởng vượt bậc như cà-phê, tiêu, điều... Năm 2024, cả ba ngành hàng này đều nằm trong "câu lạc bộ xuất khẩu tỷ đô" với nhiều dư địa phát triển.
Đặc biệt, du lịch là lĩnh vực gặt hái được nhiều thành công, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Từ dấu ấn 10 triệu lượt khách quốc tế, 62 triệu lượt khách nội địa năm 2016, đến năm 2019 các con số này đã tăng lên đáng kể, lần lượt là 18 triệu và 85 triệu.
Sau năm 2019 là giai đoạn ngành du lịch sụt giảm mạnh do COVID-19. Tuy nhiên đến năm 2024, sự đa dạng hóa và phát triển của nhiều thị trường tiềm năng đã giúp ngành du lịch nước ta phục hồi ngoạn mục, về sát mức năm 2019 - trước khi xảy ra dịch COVID-19.
Điểm đáng chú ý trong năm 2024 là sự tăng trưởng mạnh mẽ từ thị trường Ấn Độ (với hơn 500.000 du khách Ấn Độ đến Việt Nam năm 2024 so với 392.000 du khách năm 2023), cho thấy Việt Nam đang từng bước thành công trong việc đa dạng hóa thị trường nguồn khách quốc tế.
Không chỉ đạt được những con số ấn tượng, du lịch Việt Nam còn ghi dấu ấn sâu sắc trên trường quốc tế. Năm 2024, Giải thưởng Du lịch thế giới (World Travel Awards-WTA) tiếp tục tôn vinh Việt Nam ở 3 hạng mục: Điểm đến hàng đầu châu Á, Điểm đến di sản hàng đầu châu Á và Điểm đến thiên nhiên hàng đầu châu Á. Ngoài ra còn có 45 giải thưởng hàng đầu châu Á khác dành cho các điểm đến, khu nghỉ dưỡng, doanh nghiệp lữ hành, hàng không… của Việt Nam.
Những thành tựu ấn tượng này không chỉ khẳng định vị thế của du lịch Việt Nam trên bản đồ thế giới mà còn tạo tiền đề vững chắc để ngành tiếp tục bứt phá mạnh mẽ trong những năm tiếp theo.
Nguồn trích dẫn
Bài viết được trích dẫn từ:
- Nguồn: Liên Hiệp Tổ Chức Hữu Nghị Việt Nam
- Cre: TTXVN
Xem chi tiết bài viết gốc ở đường link bên dưới...







